DANH MỤC CHÍNH

THỐNG KÊ

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • TIN MỚI NHẤT

    ĐIỀU TRA Ý KIẾN

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Chào mừng quý vị đến với HỘI CHS KHU VỰC PHÍA BẮC.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > ĐẤT VÀ NGƯỜI HD > Gương danh nhân >

    NHẠN LOAN CỔ ĐỘ

    co_do

    Khúc sông Triền Dương (tương truyền là bến đò cổ Nhạn Loan xưa) Ảnh: Ngọc Hùng

    Thử tìm lại địa danh Nhạn Loan cổ độ?

    Nhạn Loan cổ độ, tức bến cổ Nhạn Loạn, nay là bến Triều Dương, thuộc xã Nhân Huệ. Đây là một bến đò có tích từ thời Hùng Vương. Chí Linh phong vật chí cho biết, Thục An Dương vương bị quân Triệu Đà truy đuổi, ông chạy qua bên đò này. Trần Khánh Dư khi thất sủng cũng từng bán than tại đây. Đối ngạn với Nhạn Loan qua sông Lục Đầu là bến Bình Than, thuộc ngã ba sông Đuống và Lục Đầu. Đây là những địa danh nổi tiếng trong lịch sử dân tộc hàng ngàn năm trước, nơi áo nhiều dinh thự của tiền triêu, quê hương nhiều nhân vật lịch sử. ở đây còn một khu chợ lớn bên bến đò, nhưng nay ít được quan tâm. Trang Tri thức Việt (Vietgle) viết: Vào đời Minh, Gia Bình thuộc đất huyện An Định, châu Gia Lâm, phủ Bắc Giang. Đời Lê là huyện Gia Định. Năm Minh Mạng thứ nhất 1820 đổi thành Gia Bình, vì trùng tên với Gia Định (ở Đàng trong). Năm 1950, huyện Lương Tài sáp nhập với Gia Bình thành huyện Gia Lương,  năm 1999 lại tách ra như cũ.

    Năm 1282, nhà Trần tổ chức hội nghị Bình Than, một bãi đất nằm giữa sông Lục Đầu thuộc đất xã Cao Đức, huyện Gia Bình…

    Trang Wikipedia - Bách khoa toàn thư mở, trong mục huyện Gia Bình, Bắc Ninh,  lại thấy có đoạn viết: “ Năm 1282, nhà Trần tổ chức hội nghị Bình Than ở tổng Vạn Ti, nay thuộc xã Cao Đức, huyện Gia Bình (Bắc Ninh ), để nhất trí toàn dân chống giặc Nguyên Mông. Ở hội nghị này Trần Quốc Tuấn được phong là Quốc công tiết chế tổng chỉ huy quân đội…
    Lại một lần, có bạn xem truyền hình viết thư hỏi rằng “Nhạn Loan cổ độ” là ở đâu. MC trả lời “Nhạn Loan thuộc đất Gia Bình”...

    Xem như thế, vấn đề địa danh Nhạn Loan, vẫn còn phải có lời giải tiếp.

    Giải mã  chữ Nhạn Loan

    Theo từ điển Đào Duy Anh, Nhạn là con ngỗng trời. Từ điển Thiều Chửu (NXB Thành phố Hồ Chí Minh- 1998), chữ nhạn là chim nhạn, bay theo thứ tự, mùa thu lại, mùa xuân đi, cho nên gọi là hậu điểu - chim mùa. Còn gọi là chim mòng.

    Loan có  tới 6 chữ với tự  dạng  khác  nhau và  nghĩa  cũng  khác  nhau. Có chữ  Loan là  cái  chuông, có chữ  là  dáng  núi, là cong queo, là  chuông đeo cổ  ngựa, là  tên một loài  cây, là một loài chim phượng và  có một chữ, nghĩa là chỗ  hõm  nước  chảy  vòng.

    Như thế, Nhạn Loan trong Nhạn Loan cổ độ xem ra phải là vụng nước hõm vào, có những con ngỗng trời hay chim nhạn bay vờn trên mặt nước.

    Liên quan mật thiết tới võ tướng Trần Khánh Dư

    Địa danh Nhan Loan có muộn nhất cũng cách đây hơn 700 năm, tức là cuối thế kỷ thứ 13. Sách cũ chép sau khi bị cách chức làm thứ dân, Trần Khánh Dư về đốt than, chài cá kiếm sống trên sông Lục Đầu.

    Trần Khánh Dư, con trai của Thượng tướng quân Nhân Huệ hầu Trần Phó Duyệt, có thái ấp ở  Chí Linh.  Trong kháng chiến chống Mông Nguyên lần thứ nhất, Trần Khánh Dư lập công, vua Trần Thái Tông khen có tài thao lược đã nhận làm con nuôi, gọi là  thiên tử nghĩa nam. Sau được phong là Phiêu kỵ đại tướng quân. Chức này chỉ phong cho các Hoàng tử. Ông còn được hưởng tước Nhân Huệ Vương.

    Vì quan hệ tình cảm với  công chúa Thiên Thụy là vợ Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn(con trai Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn), nên Khánh Dư bị xử tội phạt đánh cho đến chết. Nhưng vì quá yêu người con nuôi này, nên vua Trần lại ngầm hạ lệnh cho lính đánh chúc đầu gông xuống. Thành ra qua 100 gậy, Trần Khánh Dư vẫn sống. Luật thời bấy giờ, nếu đã bị đánh qua 100 gậy  mà kẻ bị tội không chết,  nghĩa là trời tha.  Tuy nhiên, Trần Khánh Dư vẫn bị cách chức làm thứ dân, tịch thu gia sản, chỉ còn giữ được đất ở Chí Linh là của riêng của người cha là Nhân Huệ hầu Trần Phó Duyệt.

    Khánh Dư lui về Chí Linh làm nghề bán than sinh sống.

    Một ngày tháng 10 năm Nhâm Ngọ 1282, Khánh Dư chở thuyền qua bến Bình Than, nhà vua trông  thấy một người chèo thuyền bơi nhanh vun vút, thì lạ lắm. Khi gọi lại mới biết là Trần Khánh Dư đang lam lũ kiếm sống, đội nón lá, mặc áo ngắn. Vua nói “Nam nhi cực khổ đến thế là cùng”. Vua xuống chiếu tha tội, ban áo ngự, vị thứ ngồi dưới các vương, trên các công hầu, cùng bàn việc đánh giặc và phục chức, cử làm Phó tướng trấn giữ Vân Đồn.

    Kháng chiến Mông Nguyên lần thứ ba (1288), Khánh Dư có công  đánh tan đạo binh thuyền chở lương thực, khí giới của quân Nguyên do Trương Văn Hổ chỉ huy, góp phần làm xoay chuyển tình thế và kết thúc chiến tranh.

    Không chỉ giỏi võ, Trần Khánh Dư am tường văn chương. Ông là người viết lời tựa cho cuốn “Vạn Kiếp tông bí truyền thư” của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Đại Việt Sử ký toàn thư có chép lại lời tựa ấy.
    Là vị tướng giỏi, nhưng Trầ
    n Khánh Dư lại là người biết làm kinh tế. Ông biết vào rừng đốt than, ra sông quăng chài, làm nón buôn bán để sống. Khi là dân thường và thời gian làm tướng ông cũng tham gia hoạt động kinh doanh, lưu thông hàng hoá.

    Không rõ Trần Khánh Dư sống ở Chí Linh bao lâu, nhưng tên tuổi ông thì mãi mãi gắn liền với mảnh đất này. Có một đền Gốm thờ Trần Khánh Dư, và một xã Nhân Huệ mang tước vương của ông đến nay vẫn hiện diện trên bản đồ quốc gia.

    Bấy giờ ở khu đất mà Trần Khánh Dư sinh sống có một  làng Triền, còn gọi là Lý Dương. Bến sông gọi là bến Triền Dương, nơi Trần Khánh Dư thường lui tới đây để chài cá và mang than đến bán cho thương khách. Chính bến Triền này, mãi hơn ba trăm năm sau vẫn còn được nhắc lại trong câu chuyện về Thám hoa Nguyễn Minh Triết, thời Lê - Mạc .

    Nguyễn Minh Triết  đã 54 tuổi, cảnh nhà nghèo, người làng Thiên (nay là phường Thái Học, thị xã Chí Linh), lên Thăng Long thi Hội. Thi xong, vội vã về quê vì hết tiền ăn. Ông đã chịu ơn nhà chủ quán cưu mang  trong những ngày trọ lại Thăng Long chờ đợi. Trước khi về, ông đã gửi lại chủ quán một bản  lộ trình, kê ra danh tính, quê quán, nhưng đặc biệt là trong đó đã để lại những tên làng tên đất trên đường về quê ông:
    Ngo, Nghe, Ngụ, Triện, lái sang Triền
    Qua Dâu, Lang Giản, Nẻo, Cùa, Thiên...

    Bến Nhạn Loan là một địa danh có từ thời vua An Dương Vương?

    Cứ tưởng địa danh Nhạn Loan có khoảng tám trăm năm nay...
    Nhưng nó có từ thời Thục An Dương Vương!
    Sách Chí Linh phong vật chí, do gia đình họ Đào Ngọc, người xã An Lạc phụng sao năm Bính Tý - Bảo Đại 11 tháng 3 nhuận, hiện đang lưu trữ tại Thư viện tỉnh Hải Dương, có chép bài thơ chữ Hán:
    Triền Dương giang miếu cổ anh linh
    Quy trảo nga mao di cố lộ
    Lang Gián, Đông Hồ tích hiển linh
    (Miếu cổ sông Triền Dương linh thiêng lâu đời.
    Móng rùa, lông ngỗng để lại dấu con đường cũ
    Xứ Đông Hồ, Lang Gián xưa vẫn còn thiêng)
    Có điều chú ý là,  trong một bài thơ khác với tiêu đề “Nhạn Loan cổ độ” của Nguyễn Tri Hoa được miêu tả rất sinh động. Nguyên văn bài thơ chữ Hán được dịch ra như sau:

    Bến đò cũ Nhạn Loan

    Móng rùa lông ngỗng
    chuyện khôn bàn
    Danh tiếng còn truyền bến
    Nhạn Loan
    Chú lái chở đò tơi nón rách
    Ông chài câu cá sáo ca vang
    Cảnh xưa sông nước  coi như hệt
    Thu trước gió trăng thú vẫn nhàn
    Thuyền khách dạo chơi
    trên bến cũ
    Duyên may gặp gỡ  buổi lầm than


    (Nguyễn Huy Đại và Nguyễn Thanh Giản dịch)

    Chỉ xét hai câu thơ đầu đã thấy nói tới chuyện “lông ngỗng, móng rùa” trong chuyện Trọng Thuỷ - Mỵ Châu và vua An Dương Vương  xung quanh chiếc nỏ thần. Lại còn liên quan tới Trần Khánh Dư qua chi tiết “Tướng quân thán phiệt” chỉ bè chở than của tướng quân Trần Khánh Dư làm cho bến đò thành danh tiếng.

    Có điều  Nhạn Loan không chỉ đơn thuần là một bến đò ngang cố định. Nó có không gian rộng lớn hơn nhiều. Chữ  độ  trong Nhạn Loan cổ độ, phải hiểu là  chỗ qua lại, chỗ từ bờ này sang bờ kia. Và phải  thoả mãn với chi tiết là thuộc đất  thái ấp của  Nhân Huệ hầu Trần Phó Duyệt, nơi cư trú, buôn bán, chài lưới sinh sống của Trần Khánh Dư sau khi bị cách chức.  Đó là khúc sông đối ngạn với Cao Đức, Gia Bình, tức là bến Triền Dương, hay còn gọi là Lý Dương, hiện tại thuộc xã Cổ Thành, thị xã Chí Linh.

    THEO: KHÚC HÀ LINH

    Nhắn tin cho tác giả
    Vũ Trung Kiên @ 19:58 07/02/2012
    Số lượt xem: 1088
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    ĐÓN TRƯỜNG CHUẨN

    TRẠNG NGUYÊN CỔ ĐƯỜNG