Chào mừng quý vị đến với HỘI CHS KHU VỰC PHÍA BẮC.
BA DANH NHÂN ĐƯỢC THỜ TẠI TRẠNG NGUYÊN CỔ ĐƯỜNG


01. LƯỠNG QUỐC TRẠNG NGUYÊN MẠC ĐĨNH CHI
(1280 – 1346)
Người xã Lũng Động, huyện Chí Linh, nay là thôn Lũng Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Mạc Đĩnh Chi mồ côi cha từ nhỏ, nhà nghèo, hai mẹ con phải đi vào rừng sâu hái củi để kiếm sống hàng ngày. Bà mẹ đã chịu hy sinh tất cả để cố nuôi con, cho con đi học. Trong những năm tháng nhọc nhằn, tủi nhục, mẹ vẫn cắn răng chịu đựng, chỉ ao ước con mình sẽ có ngày đỗ đạt để giúp ích cho đời, thoát khỏi cảnh nghèo, niềm tin ấy đã giúp mẹ vượt qua mọi gian khổ. Hiểu được lòng mẹ, Mạc Đĩnh Chi càng ra sức học tập. Vốn là cậu bé có tư chất thông minh lại phải sống trong cảnh mồ côi nghèo khổ, bị người đời khinh rẻ, nên Mạc Đĩnh Chi sớm nhận ra rằng chỉ có học tập, học thành tài mới là con đường đưa cậu bé thoát khỏi cảnh nghèo khổ và cũng là để thể hiện phẩm chất thanh cao của con người từ sự đỗ đạt mà đi lên. Vì vậy, không mấy lúc Mạc Đĩnh Chi ngơi đọc sách, nghiền ngẫm nghĩa sách, kể cả lúc vai gánh củi đi bán. Không có sách học thì mượn thầy mượn bạn. Mạc Đĩnh Chi cố học nhiều cuốn sách quý. Không có tiền mua nến để đọc sách, Mạc Đĩnh Chi đốt củi, hết củi thì lấy lá rừng đốt lên mà học, thật là vô cùng gian khổ nhưng chú bé không hề nản chí. Do có nghị lực phi thường, cộng với tính thông minh trác việt, chẳng bao lâu Mạc Đĩnh Chi đã nổi tiếng thần đồng nho học xứ Hải Đông.
Khoa thi Giáp Thìn (1304), thi hội, Mạc Đĩnh Chi đỗ Hội nguyên, thi Đình, ông được chấm đỗ Trạng Nguyên, nhưng khi vào ra mắt nhà vua, vua Trần Nhân Tông thấy ông tướng mạo xấu xí, có ý không muốn cho ông đỗ đầu. Biết ý, ông đã làm bài “Ngọc tỉnh liên phú”. Đó là bài phú bằng chữ Hán để gửi gắm chí khí của mình. Bài phú đề cao được phẩm chất trác việt và phong thái cao quý của một người khác thường, vượt xa người khác về mọi mặt. Song không muốn ganh đua với người tầm thường để mong cho đời biết đến ông dùng hình tượng một bông sen sinh ra trong giếng ngọc ở núi Hoa Sơn do một vị đạo sĩ kỳ dị hái mang xuống cõi trần. Vua Trần Anh Tông xem xong khen là thiên tài mới cho đậu Trạng nguyên, ban cờ hiển vinh quy bái tổ. .
Sau khi trở về kinh đô, nhà vua cho vời Trạng vào bệ kiến, hỏi việc chính trị, Trạng nói đâu ra đấy, vua rất hài lòng, ban cho Trạng chức Hàn lâm học sĩ, sau thăng dần đến chức Thượng thư, rồi Đại Liêu ban Tả Bộc Xạ (tương đương chức Tể tướng).
Năm Đại Khánh triều vua Trần Minh Tông (1314 – 1329), vua nhà Nguyên sai sứ sang phong vương cho nhà vua, Mạc Đĩnh Chi được cử làm Chánh sứ sang nhà Nguyên đáp lễ. Trong quá trình đi sứ của ông đã biểu hiện rất xuất sắc tài năng ngoại giao và tầm trí tuệ vĩ đaị của ông khiến cho vua tôi nhà Nguyên vô cùng kính phục.
Mạc Đĩnh Chi làm quan trải 3 triều vua: Trần Anh Tông (1293 – 1314), Trần Minh Tông (1314 – 1329), Trần Hiếu Tông (1329 – 1341) đến chức Đại Liêu ban Tả bộc xạ (Tể tướng).
Khi làm quan thì ông nổi tiếng là trung thực và thanh liêm, hết lòng vì dân vì nước, đến lúc già về hưu chỉ có nếp từ đường (thờ tổ tiên) nhỏ bé mà thôi, thường ngày ông vẫn ra ngồi nơi quán lá uống bát nước vối, chuyện trò thân mật với dân làng. Ông sống thanh bạch, giản dị như những người dân quê. .
Ngày nay để tưởng nhớ công lao của ông, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đều có đường phố, trường học mang tên Mạc Đĩnh Chi.

02. TRẦN QUỐC TẢNG
Trần Quốc Tảng (1252-1313) chào đời được 6 năm thì đất nước gặp nạn Nguyên Mông xâm lược. Làm con của một vị tướng tài ba vào bậc nhất của triều Trần là Trần Quốc Tuấn (1228-1300), ông thừa hưởng toàn bộ khí phách của cha và sức mạnh, quyền uy của cả dòng họ.
Sau thất bại của cuộc xâm lược Đại Việt lần đầu tiên (năm 1258), năm 1284, nhà Nguyên âm mưu giả cớ mượn đường đi đánh Chiêm Thành để hòng thôn tính nước ta. Năm 1285, giặc Nguyên ồ ạt tràn sang cướp phá. Và đây cũng là lần đầu tiên lịch sử ghi danh Trần Quốc Tảng vào công cuộc chống giặc ngoại xâm: “Hưng Vũ Vương Nghiễn, Minh Hiến Vương Uất, Hưng Nhượng Vương Tảng, Hưng Trí Vương Hiện đốc suất 20 vạn quân các xứ Bàng Hà, Na Sầm, Trà Hương, Yên Sinh, Long Nhãn đến hội ở Vạn Kiếp theo quyền điều khiển của Hưng Đạo Vương để chống quân Nguyên” (1).
Cho đến cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba năm 1288, cha con Hưng Đạo Vương vẫn luôn là những người đứng đầu xông pha trận mạc. Đến năm 1289, cuộc kháng chiến chống quân Nguyên kết thúc thắng lợi, khi định công dẹp giặc, nhà vua đã “tiến phong Hưng Đạo Vương làm Đại Vương, Hưng Vũ Vương làm Khai Quốc công, Hưng Nhượng Vương làm Tiết độ sứ”. Riêng “Hưng Trí Vương không được thăng trật, vì đã có chiếu cho người Nguyên về nước, các tướng không được cản trở, mà lại còn đón đánh chúng” (2).
Theo định chế của nhà Trần “con trưởng các vương thì phong vương, các con thứ thì phong hầu, coi đó là chế độ lâu dài” (3), nhưng cả ba người con trai được nhắc đến của Hưng Đạo vương đều đã được làm vương. Trần Quốc Nghiễn (Hưng Vũ Vương) luôn được nhắc đến ở vị trí đầu, tiếp theo là Trần Quốc Hiện (Hưng Trí Vương) và Trần Quốc Tảng (Hưng Nhượng Vương). Điều đáng nói, chức Tiết độ sứ được tiến phong cho Trần Quốc Tảng dù chưa rõ định mức uy quyền đến đâu, nhưng đây từng là một chức vụ mà Trung Hoa khi áp đặt sự cai trị nước ta đã đặt ra, nhằm cai quản các đạo. Trước đây nước ta bị Trung Hoa chia làm một đạo, Ngô Quyền từng giữ chức Tiết độ sứ, sau ông bỏ chức này và tự xưng vương.
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Nhâm Dần, Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 11 (1242): Mùa xuân, tháng 2, chia nước làm 12 lộ. Đặt chức an phủ, trấn phủ, có 2 viên chánh, phó để cai trị. Các xã, sách thì đặt chức đại tư xã, tiểu tư xã. Từ ngũ phẩm trở lên là đại tư xã, từ lục phẩm trở xuống là tiểu tư xã. Có người làm kiêm cả 2-4 xã, cùng xã chính, xã sử, xã giám gọi là xã quan” (4). Nhà Trần chia nước làm 12 lộ và một số phủ khác, vậy chức Tiết độ sứ chắc chắn phải có vai trò quan trọng đối với vị trí địa lý của một số lộ, đặc biệt là một số vùng biên ải mà cha con nhà Hưng Đạo Vương được cắt đặt làm vùng đất thang mộc để phát triển.
Khi trước, mâu thuẫn giữa cha của Trần Quốc Tuấn và vua Trần Thái Tông xuất phát từ việc Trần Thủ Độ sắp đặt việc lập công chúa Thuận Thiên (vợ của Trần Liễu) làm hoàng hậu, tức vua Trần Thái Tông lấy vợ của anh. Chính điều này mới dẫn đến sự nổi loạn của Trần Liễu. Trần Liễu ở vào thế cô, bị Trần Thủ Độ xem là giặc, cuối cùng cũng phải ấm ức tuân theo sự sắp đặt này, song bản thân vua Trần Thái Tông, dù gánh trọng trách quốc gia, nhưng “trong lòng áy náy, ban đêm ra khỏi kinh thành đến chỗ quốc sư Phù Vân trên núi Yên Tử rồi ở lại đó” (5). Chỉ đến khi Quốc sư Phù Vân khuyên ông “lấy ý của thiên hạ làm ý của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình”, cùng với sức ép của Trần Thủ Độ, ông mới trở về kinh thành.
Nói đến những ứng xử trọng tình anh em thân tộc này, bản thân Trần Thủ Độ cũng phải thừa nhận: “Ta chỉ là con chó săn thôi, biết đâu anh em các ngươi thuận nghịch thế nào?” (6).
Cuối cùng mâu thuẫn này cũng được giải quyết bằng việc Trần Thái Tông “lấy đất Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang (thuộc hai huyện Đông Triều và Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh ngày nay) cho Liễu làm ấp thang mộc. Nhân đất được phong mà Liễu có tên hiệu là Yên Sinh Vương” (7).

03. TRẦN CẢNH
Trần Thái Tông (Trần Cảnh, 1225 - 1258)
Sinh ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần - 1218, con thứ của ông Trần Thừa và bà họ Lê. Tổ tiên Nhà Trần là Trần Kính vốn gốc ở Đông Triều (Quảng Ninh) chuyên nghề đánh cá, đến ở hương Tức Mạc, phủ Thiên Trường (nay là xã Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định), sinh ra Trần Hấp, Trần Hấp sinh ra Trần Lý.
Trần Lý sinh ra Trần Thừa, Trần Tự Khánh và Trần Thị Dung. Trần Thủ Độ là cháu họ, được Trần Lý nuôi nấng từ nhỏ coi như con. Trần Thừa sinh ra Trần Liễu và Trần Cảnh là con trai, sau có mối tình với cô thôn nữ ở thôn Bà Liệt tên là Tần, sinh ra Trần Bá Liệt. Dưới sự đạo diễn của Trần Thủ Độ, lúc đó là Điện Tiền chỉ huy sứ, ngày 21 tháng 10 năm Ất Dậu - 1225, Lý Chiêu Hoàng xuống chiếu nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh.
Ngày 11 tháng 12 năm Ất Dậu - 1225, Trần Cảnh chính thức lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Kiến Trung, phong Lý Chiêu Hoàng làm Chiêu Thánh Hoàng hậu, phong Trần Thủ Độ là Thái sư thống quốc hành quân vụ chinh thảo sự.
Mùa hạ, tháng 6 năm Nhâm Thìn - 1232, vua Trần Thái Tông ban bố các chữ quốc huý và miếu huý.
Vì Tổ nhà Trần là Trần Lý mới đổi họ Lý sang họ Nguyễn. Năm Đinh Dậu - 1237, Trần Thái Tông lấy Chiêu thánh Hoàng hậu đã 12 năm mà chưa có con. Trần Thủ Độ và vợ là công chúa Thiên Cực ép vua Trần Thái Tông bỏ Chiêu Thánh để lấy chị dâu (vợ Trần Liễu) là công chúa Thuận Thiên đã có mang 3 tháng làm Hoàng hậu. Trần Liễu tức giận đem quân ra sông Cái làm loạn. Còn vua Trần Thái Tông đang đêm bỏ trốn lên chùa Phù Vân, núi Yên Tử, Quảng Ninh để phản đối.
Trần Thủ Độ dẫn các triều thần lên núi mời vua trở về kinh sư. Vua nói: "Vì trẫm non trẻ chưa cáng đáng nổi sứ mệnh nặng nề, phụ hoàng lại vội lìa bỏ, sớm mất chỗ trông cậy, nên không dám giữ ngôi vua mà làm nhục xã tắc".
Trần Thủ Độ cố nài xin nhiều lần, vua vẫn không nghe, mới bảo mọi người rằng: "Xa giá ở đâu là triều đình ở đó". Rrồi sai người xây dựng cung điện. Bấy giờ nhà vua mới chịu về kinh đô.
Trần Liễu làm loạn ở sông Cái được vài tuần, lượng thấy thế cô, bèn ngầm đi thuyền đến chỗ vua xin hàng, anh em nhìn nhau mà khóc.
Trần Thủ Độ nghe tin, đến thẳng thuyền vua, rút gươm định giết Trần Liễu. Nhà vua phải lấy thân mình che đỡ cho anh. Trần Thủ Độ tức lắm ném gươm xuống sông nói: "Ta chỉ là con chó săn thôi, biết đâu anh em các người thuận nghịch thế nào?"
Vua nói giải hoà, rồi bảo Trần Thủ Độ rút quân về.
Nhà vua lấy đất Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang (nay là Đông Triều, Yên Hưng, Quảng Ninh) là đất thang mộc và phong cho anh là Yên Sinh Vương.
Hoàng hậu Thuận Thiên sau sinh ra Quốc Khang, thái tử Hoảng, Quang Khải, Nhật Vĩnh, ích Tắc, Nhật Duật đều được phong Vương, và các công chúa Thiều Dương, Thuỵ Bảo.
Ngày 24 tháng 2 năm Mậu Ngọ - 1258, vua Trần Thái Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Hoảng, đây là một cách tập sự cho con quen với việc trị nước. Triều đình tôn Thái Tông lên làm Thái Thượng hoàng để cùng coi việc nước.
Ngày mồng 1 tháng 4 năm Đinh Sửu - 1277, Thái Thượng hoàng mất, thọ 60 tuổi, trị vì được 33 năm, làm Thái Thượng hoàng 19 năm.
(Tham khảo trên internet)
Vũ Trung Kiên @ 10:41 24/04/2019
Số lượt xem: 3198
- TRẠNG NGUYÊN CỔ ĐƯỜNG (19/10/12)
- TỪ NHÀ DẠY HỌC CŨ CỦA MẠC ĐĨNH CHI (07/02/12)
- TINH PHI CỔ THÁP (07/02/12)
- VÂN TIÊN CỔ ĐỘNG (HUYỀN THIÊN TỰ) (07/02/12)
- PHAO SƠN CỔ THÀNH (07/02/12)


Ý KIẾN MỚI NHẤT